1. Khái niệm làm thêm giờ
Làm thêm giờ là một trong những vấn đề pháp lý quan trọng trong quan hệ lao động, đặc biệt tại các ngành nghề, lĩnh vực có nhu cầu lao động cao hoặc đặc thù thời gian làm việc.
Tại Việt Nam, Bộ luật Lao động 2019 đã đưa ra các quy định cụ thể nhằm cân bằng giữa quyền lợi của người lao động và nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Làm thêm giờ theo Điều 107 Bộ luật lao động là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường theo quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động. Làm thêm giờ được sử dụng trong các trường hợp doanh nghiệp cần tăng cường sản xuất, xử lý sự cố hoặc đáp ứng các yêu cầu đột xuất.
2. Thời giờ làm việc bình thường
Thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần.
Người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần nhưng phải thông báo cho người lao động biết; trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần.
Người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm giới hạn thời gian làm việc tiếp xúc với yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại đúng theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và pháp luật có liên quan.
3. Điều kiện làm thêm giờ
Theo Điều 59 Bộ luật Lao động 2019, việc tổ chức làm thêm giờ phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Sự đồng ý của người lao động: Khi tổ chức làm thêm giờ, người lao động phải đồng ý tham gia làm thêm giờ. Việc ép buộc làm thêm giờ là hành vi vi phạm pháp luật. khi tổ chức làm thêm giờ, người sử dụng lao động phải được sự đồng ý của người lao động tham gia làm thêm về các nội dung sau đây: Thời gian làm thêm; Địa điểm làm thêm và công việc làm thêm.
- Giới hạn về thời gian: Thời giờ làm thêm phải đáp ứng không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong ngày, không quá 12 giờ trong một ngày (bao gồm cả giờ làm việc bình thường), không quá 40 giờ trong một tháng và không quá 200 giờ trong một năm, trừ một số ngành nghề, lĩnh vực đặc biệt được phép làm thêm tối đa 300 giờ/năm.
Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm không quá 300 giờ trong 01 năm trong một số ngành, nghề, công việc hoặc trường hợp sau đây:
Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm hàng dệt, may, da, giày, điện, điện tử, chế biến nông, lâm, diêm nghiệp, thủy sản;
Sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước;
Trường hợp giải quyết công việc đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao mà thị trường lao động không cung ứng đầy đủ, kịp thời;
Trường hợp phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn do tính chất thời vụ, thời điểm của nguyên liệu, sản phẩm hoặc để giải quyết công việc phát sinh do yếu tố khách quan không dự liệu trước, do hậu quả thời tiết, thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, thiếu điện, thiếu nguyên liệu, sự cố kỹ thuật của dây chuyền sản xuất;
Các trường hợp phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn phát sinh từ các yếu tố khách quan liên quan trực tiếp đến hoạt động công vụ trong các cơ quan, đơn vị nhà nước.
Cung ứng dịch vụ công; dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; dịch vụ giáo dục, giáo dục nghề nghiệp.
Công việc trực tiếp sản xuất, kinh doanh tại các doanh nghiệp thực hiện thời giờ làm việc bình thường không quá 44 giờ trong một tuần.
- Mục đích chính đáng: Làm thêm giờ phải nhằm đáp ứng các nhu cầu sản xuất hoặc xử lý sự cố bất khả kháng.
Nếu không xuất phát từ các nguyên nhân này, người sử dụng lao động không được tở chức làm thêm giờ.
- Cuối cùng, phải thực hiện thông báo. Khi tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm, người sử dụng lao động phải thông báo cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tại các nơi sau:
Nơi người sử dụng lao động tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm;
Nơi đặt trụ sở chính, nếu trụ sở chính đóng trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác với nơi người sử dụng lao động tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm.
Việc thông báo phải được thực hiện chậm nhất sau 15 ngày kể từ ngày thực hiện làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm.
4. Làm thêm giờ trong trường hợp đặc biệt
Theo quy định tại Điều 107 Bộ luật Lao động 2019, việc làm thêm giờ bị giới hạn về số giờ làm thêm.
Tuy nhiên, trong những trường hợp sau đây, người sử dụng lao động có quyền yêu cầu người lao động làm thêm giờ vào bất kỳ ngày nào mà không bị giới hạn về số giờ làm thêm.
Đồng thời, nếu xảy ra các trường hợp này người lao động không được từ chối thực hiện làm thêm giờ:
- Thực hiện lệnh động viên, huy động bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật;
- Thực hiện các công việc nhằm bảo vệ tính mạng con người, tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm và thảm họa, trừ trường hợp có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người lao động theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.
5. Tiền lương làm thêm giờ
Tiền lương làm thêm giờ là quyền lợi quan trọng, được tính theo mức lương cao hơn so với lương giờ làm việc bình thường.
Người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc đang làm như sau:
Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%; Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%; Vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày.
Người lao động làm việc vào ban đêm thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc của ngày làm việc bình thường.
Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định trên thì người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hoặc của ngày nghỉ lễ, tết.
Tiền lương dùng để tính tiền lương là tiền lương thực trả của công việc đang làm vào ngày làm việc bình thường.
Tiền lương này được xác định là tiền lương của tháng hoặc tuần hoặc ngày mà người lao động làm thêm giờ (không bao gồm tiền lương làm thêm giờ, tiền lương trả thêm khi làm việc vào ban đêm, tiền lương của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương theo quy định của Bộ luật lao động; tiền thưởng theo quy định tại Điều 104 của Bộ luật Lao động, tiền thưởng sáng kiến; tiền ăn giữa ca, các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ; hỗ trợ khi có thân nhân bị chết, người lao động có người thân kết hôn, sinh nhật của người lao động, bệnh nghề nghiệp và các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác không liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động) chia cho tổng số giờ thực tế làm việc tương ứng trong tháng hoặc tuần hoặc ngày người lao động làm thêm giờ (không quá số ngày làm việc bình thường trong tháng và số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, 01 tuần theo quy định của pháp luật mà doanh nghiệp lựa chọn và không kể số giờ làm thêm).
Trên đây là thông tin về Chế độ làm thêm giờ và quyền lợi của người lao động theo Bộ Luật Lao Động 2019 mà Công ty Luật Nam Ánh Dương muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo.
Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc bất kỳ vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua số điện thoại 0928 44 33 55 hoặc Fanpage của Công ty Luật Nam Ánh Dương để được Luật sư tư vấn pháp luật kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách!
